-->

16/10/2011

MÔ HÌNH NUÔI SÒ HUYẾT THƯƠNG PHẨM

LỜI MỞ ĐẦU
Nghề nuôi Sò huyết ở nước ta được bắt đầu từ năm 1990, tổng diện tích bãi triều nuôi Sò trên 2.000 ha tập trung ở vùng Kiên Giang, Bến Tre, Quảng Ninh, Trà Vinh và Ninh Thuận. Đến năm  1995, tổng sản lượng Sò huyết nuôi đạt 12.520 tấn và được nuôi chủ yếu là Kiên Giang (7.500 tấn), Quảng Ninh (5.000 tấn), và một phần nhỏ ở Thừa Thiên Huế (20 tấn).
Sò huyết là loại động vật biển có giá trị dinh dưỡng cao, đang có thị trường tiêu thụ rộng lớn. Nuôi sò huyết đầu tư ít vốn, không phải cho ăn, chỉ cần bỏ công quản lý lại thu nhập cao gấp 5-10 lần vốn đầu tư, do đó được nhiều nơi phát triển.
Phần 1: ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
1.1. Phân Loại
Họ: Arcidae
    
Bộ: Arcoida
          Lớp phụ: Pteriomorphia
                Lớp: Bivalvia
                    Tên tiếng việt: Sò huyết
                         Tên tiếng Anh: Blood cockle
1.2. Phân bố.
Sò huyết (Anadara) phân bố ở các bãi bùn mềm, ít sóng gió và nước lưu thông. Các bãi sò thường gần các cửa sông có dòng nước ngọt đổ vào, nồng độ muối tương đối thấp. Sò nhỏ sống trên mặt bùn, sò lớn vùi sâu trong bùn khoảng 1-3cm. Chúng dùng mép vỏ và màng áo ngoài thải nước làm thành lỡ ở mặt bùn để hô hấp và bắt mồi.
Sò không vùi sâu nên yêu cầu về chất đáy chỉ cần khoảng 15cm bùn mềm nhưng tốt nhất là nền đáy là bùn pha một ít cát mịn. Sò có thể sống ở vùng triều (littoral) và vùng dưới triều (sublittoral) đến độ sâu vài mét. Nơi thích hợp nhất cho sò là tuyến triều thấp.
Sò có khả năng thích nghi với phạm vị biến đổi nồng độ muối rộng từ 10-35%o (tỉ trọng 1.007-1.017), khoảng thích hợp là từ 15-30%o. Khi nồng độ muối giảm thấp dưới 10%o, nhất là trong mùa mưa lũ, sò sẽ vùi sâu xuống bùn. Nếu trong một thời gian ngắn nồng độ muối trở lại thích hợp thì sò chui lên và tiếp tục sống bình thường, nếu tình trạng nồng độ muối thấp kéo dài có thể làm sò chết. Phạm vi thích ứng nhiệt độ của sò cũng rất rộng từ 20-300C
1.3. Đặc điểm hình thái.  
Vỏ dày chắc, có dạng hình trứng, cá thể lớn có vỏ dài 60mm, cao 50 mm, rộng 49 mm. Mặt ngoài của vỏ gờ phóng xạ rất phát triển, có khoảng 18-21 gờ. Trên mỗi gờ phóng xạ có nhiều hạt hình chữ nhật, đối với những cá thể già ở xung quanh mép vỏ những hạt này không rõ lắm. Bản lề hình thoi, rộng, màu nâu đen, có nhiều đường đồng tâm hình thoi. Mặt trong của vỏ có màu trắng sứ, mép vọ có nhiều mương sâu tương ứng với đường phóng xạ của mặt ngoài. Mặt khớp thẳng, có nhiều răng nhỏ, vết cơ khép vỏ sau lớn hình tứ giác, vết cơ khép vỏ trước nhỏ hơn hình tam giác.  Theo nguyễn Chính năm 1996.
1.4. Đặc điểm dinh dưỡng.
Thức ăn của sò bao gồm mùn bã hữu cơ, tảo và vi sinh vật trong bùn. Sò bắt mồi thụ động bằng cách tạo dòng nước qua mang để lấy thức ăn. Phương thức bắt mồi của sò cũng giống các lài Bivalvia khác.
1.5. Đặc điểm Sinh sản.
1.5.1. Phát triển phôi.
Sau 1-2 năm tuổi sò có thể thành thục sinh dục và tham gia sinh sản lần đầu tiên. Khi thành thục sò đẻ trứng và tinh trùng vào nước, trứng thụ tinh sẽ phát triển qua các giai đoạn ấu trùng bánh xe và diện bàn. 

Hình 1: Quá trình phát triển của phôi sò huyết

1.5.2 Sinh Sản Nhân Tạo: 
             Nuôi vỗ: bắt sò ngoài tự nhiên đem về nuôi ở tuyến triều thấp, nơi có điều kiện thức ăn phong phú, nước lưu thông. Nên nuôi với mật độ thưa để sò nhanh thành thục. Sau khi sò đã thành thục sinh dục chúng được mang về phòng thí nghiệm để tiến hành sinh sản nhân tạo.1.5.2. Sinh sản nhân tạo.
Kích thích sinh sản: ở ngoài tự nhiên cần có điều kiện sinh thái nhất định sò mới đẻ trứng và phóng tinh, những điều kiện đó là tối cần thiết. Nhưng trong sinh sản nhân tạo những điều kiện sinh thái đó cũng được sử dụng hoặc thay thế bằng những kích thích nhân tạo. Hiện nay sinh sản nhân tạo áp dụng phương pháp kích thích sinh sản bằng hóa kết hợp với kích thích sinh thái. Hiện nay có một số phương pháp kích thích sinh sản như sau:
-  Kích thích bằng (NH4OH): tiêm 0,2-0,5 ml nước biển có chứa 2%o ammoniac vào xoang màng áo của sò sau đó cho vào nước biển đã lọc sạch, 20 phút sau sò sẽ đẻ.
- Kích thích bằng nước ammoniac kết hợp hạ thấp nhiệt độ: sau khi tiêm nước ammoniac cho sò vào nước có nhiệt độ 11-13oC trong 90 phút, sau đó vớt sò ra và cho vào nước biển ở nhiệt độ bình thường 28oC, sò sẽ đẻ sau 10 phút.
- Ngâm trong nước ammoniac kết hợp với hạ nhiệt độ: ngâm sò vào dung dịch ammoniac 1%o sau 3 giờ vớt sò ra để khô khoảng 90 phút, sau đó thả sò vào nước biển có nhiệt độ 11-13oC trong 90 phút, cuối cùng cho vào nước biển có nhiệt độ bình thường, sò sẽ đẻ sau 20 phút.
- Hạ nhiệt độ kết hợp nước chảy: Đem sò bố mẹ vào tủ lạnh ở 10oC trong 2 giờ sau đó chuyển sò sang nước biển ở nhiệt độ bình thường. Kích thích nhiệt ở 7-12oC kết hợp với nước chảy cũng cho kết quả tốt.
- Trong các phương pháp trên, phương pháp kết hợp hạ nhiệt độ với nước chảy cho kết quả tốt nhất, sò không bị độc, tỉ lệ sinh sản cao và thao tác lại đơn giản thích hợp cho sản xuất đại trà.
- Thụ tinh nhân tạo: nếu kích thích đực và cái riêng biệt thì sau khi sò sinh sản chúng ta phải tiến hành thụ tinh nhân tạo. Trứng sò sau khi đẻ được lọc qua lưới phiêu sinh rồi cho vào thau, chậu, sau đó cho tinh dịch vào (tinh dịch có thể lấy bằng các kích thích sinh sản hay giải phẫu). Khuấy đều độ nữa giờ sau đó rửa vài lần, ấu trùng phù du sẽ xuất hiện sau vài giờ. * Nên duy trì nhiệt độ lúc thụ tinh là 28oC.
- Ương nuôi ấu trùng: ương ấu trùng trong hệ thống nước chảy và cho ăn bằng tảo hay nấm men với mật độ 2500-3500 tb/ml. Khi ấu trùng đạt giai đoạn bám cần cung cấp vật bám cho sò. Vật bám tốt nhất là cát, sỏi hay vụn của vỏ động vật thân mềm. Cũng có thể ương ấu trùng trong ao đất có diện tích khoảng 1000m2 có cống khống chế nước ra vào. Mức nước ương tứ 0,5-0,8m, sâu nhất là 1m. Trước khi ương nên tẩy dọn ao, bừa đáy, gây nuôi thức ăn. Mật độ ương khoảng 1250 ấu trùng/lít.
Phần 2: KỸ THUẬT NUÔI SÒ HUYẾT THƯƠNG PHẨM
Ở VÙNG BẢI TRIỀU.
1. Điều kiện bãi nuôi.
- Bãi nuôi thường chọn ở những nơi ít sóng gió và gần cửa sông. Chất đất tốt nhất là bùn mềm pha lẫn cát mịn, mặt bùn bằng phẳng, có màu vàng nâu, độ dày lớp bùn khoảng 3-6cm, chất đất cát pha bùn với tỷ lệ bùn chiếm khoảng 70 - 80%. Yêu cầu dày hay mỏng tùy vào kích cỡ của sò giống.
- Bãi nuôi tốt nhất là tuyến triều thấp với thời gian phơi bãi ngắn từ 5-6 giờ/ngày.
- Muốn sò sinh trưởng tốt nước phải chứa nhiều thức ăn (mùn bã hữu cơ, thực vật phù du và vi sinh vật). Bãi nuôi nên chọn gần cửa sông để nước sông bổ sung dinh dưỡng cho bãi, nhưng cần chú ý đến sự biến thiên nồng độ muối để tránh ảnh hưởng đến sò.
- Yếu tố môi trường :
+ Nhiệt độ thích hợp nhất là 15 - 30oC.
+ Nhiệt độ lớn hơn 40oC hoặc dưới -2oC sò bị chết.
+ Ðộ mặn phù hợp là 10 - 29
+ Độ mặn của nước  < 3,8hoặc > 33  sẽ ảnh hưởng khả năng sống của sò.
2. Xây dựng bãi nuôi.
- Chọn nơi có bãi bằng phẳng, không bị ứ nước, nếu bãi quá rộng phải chia bãi ra thành từng ô nhỏ để dễ chăm sóc. Xung quanh nên chắn đăng hay lưới để ngăn chặn địch hại và không cho sò đi ra khỏi bãi.
- Làm vệ sinh mặt bãi, nhặt sạch tạp vật, nếu nền đáy cứng thì có thể xới cho xốp. Khi nuôi sò trong các đầm  phải xây dựng một số hạng mục công trình như sau:
- Nếu nuôi đơn giản:
Tiến hành đóng cột mốc ở 4 góc làm ranh giới quản lý. Dùng đăng tre hoặc lưới căng xung quanh bãi thành rào chắn không cho sinh vật có hại xâm nhập vào bãi nuôi. Sau đó, dùng cây gỗ chắc chịu được nước đường kính 10-15cm, dài 1,5-2m làm thành cọc đóng thành hàng xung quanh bãi, mỗi cọc cách nhau 1m và đóng sâu 0,5m.
Dùng đăng lưới căng theo hàng dọc, chân đăng hoặc lưới cắm sâu dưới bùn 0,2m và cột chặt vào các cọc. Sửa sang lại bãi cho phẳng, không để ứ đọng nước, nhặt hết các tạp vật hại sò. Nếu bãi cứng phải cày bừa cho tơi xốp. Cách nuôi này tuy đầu tư ít song lại không bền vững, hàng năm phải thay cọc, lưới hoặc đăng gây nhiều tốn kém.
Hình 2: Lưới chăn  
Hình 3: Chòi canh                                        
Hình 4: Xây dựng công trình nuôi.
- Nuôi kiên cố:
Phải thiết kế bãi nuôi có hình chữ nhật và xây dựng kèm theo các công trình. Bờ bao xung quanh bãi phải đắp chắc chắn, mặt bờ rộng 2-2,5m, đáy bờ 3-3,5m, chiều cao của bờ 1,2-1,5m. Xây dựng thêm mương bao xung quanh phía trong bờ bao. Diện tích mương bằng 15-20% diện tích bãi nuôi. Thủy triều trước khi vào bãi qua mương được lọc lại bùn, cát và các tạp vật khác làm cho nước vào bãi trong sạch. Mương ngoài tác dụng là rào chắn không cho sinh vật có hại xâm nhập vào bãi còn có nhiệm vụ điều chỉnh nhiệt độ trên bãi nuôi.
- Phía trước bãi nuôi và đối diện với cửa cống cấp nước xây một bờ ngăn cao 0,6m, bề mặt 0,6m, cách bãi nuôi chừng 1,5m và cách cửa cống 1,5m, mục đích làm phân tán dòng chảy, giảm lưu tốc chảy của nước từ cống cấp vào bãi đảm bảo cho bãi nuôi không bị xói mòn.
+ Bãi: là nơi trú của sò, vì thế cần làm bằng phẳng, cao trình mặt bãi phải đảm bảo thấp để có thể điều tiết nước dể dàng theo thủy triều trong quá trình nuôi.
+ Cống: dùng để điều chỉnh lượng nước trong đầm, có thể xây dựng cống thô sơ hay kiên cố. Cống cấp và tháo nước nhằm điều chỉnh lượng nước trong bãi nuôi. Cống làm bằng xi măng, bằng gỗ hoặc bằng cây dừa.
Tùy theo diện tích đầm mà xây dựng cống có khẩu độ và số lượng thích hợp đảm bảo trao đổi nước đầy đủ.
3.  Chọn giống
3.1. Vùng biển
- Sò hương phân bố nhiều trên các bãi triều vùng cửa sông trong Vịnh, vùng dưới trung triều số lượng rất nhiều 1260 con/m2 trong khi vùng hạ triều 760 con/m2 và vùng cao triều 139 con/m2 (vì vùng cao triều, thời gian khô hạn kéo dài, vùng hạ triều thường gặp địch hại).
- Trong cùng một vùng triều thì nơi nước chảy chậm ít hơn nơi nước chảy nhanh.
- Sò hương thích sống ở nơi có đáy bùn non hoặc bùn cát. Vì vậy, chất đáy ở các bãi  Sò hương nên là bùn cát xốp mịn, trên mặt bằng phẳng.
3.2. Nhiệt độ và độ mặn của nước sông
Sò huyết có thể sống ở môi trường có nhiệt độ dao động từ 0 - 35oC, nhiệt độ thích hợp nhất là 15 - 30oC. Nhiệt độ cao hơn 40oC hoặc thấp dưới - 2oC đều khiến sò bị chết. Ðộ mặn phù hợp là 6,5 -29 . Ðộ mặn của nước thấp hơn 3,8 hoặc cao hơn 33 sẽ ảnh hưởng tới sức sống của sò, thậm chí khiến sò bị chết.
3.3. Chất đáy
Sò huyết ưa sống ở vùng bùn cát, bằng phẳng, bề mặt mềm, mịn. Bảng điều tra dưới đây cho thấy sò thích sống nhất ở nơi có chất đáy là bùn cát, thứ đến là bùn nhão, sống ít hoặc không sống tại nơi có chất đáy nhiều cát ít bùn.
. Chất đáy
 Tỉ lệ (100%)
Số lượng sò sống được con/m2

Bùn
Cát

Bùn nhão
90
10
61
Bùn cát
70
30
831
Cát bùn
20
80

Cát bùn
30
70
5
3.4 Thuỷ triều
Sò có thể sống tại cả ba khu vực : Nơi có thuỷ triều cao, thuỷ triều vừa và thuỷ triều thấp. Nhưng số lượng của sò huyết tại ba khu vực này rất khác nhau. Theo điều tra của nhóm tác giả thì khu vực thuỷ triều vừa và thấp có sò huyết sống nhiều hơn cả.
Thuỷ triều cao
Thuỷ triều vừa
Thuỷ triều thấp
0
165
395
5
831
95
89
61
12
45
203
285
4. Nguồn giống
Sò cung cấp cho nghề nuôi sò hiện nay chủ yếu là giống tự nhiên cho nên trước khi tiến hành lấy giống cần phải điều tra, dự báo diện tích bãi giống, trữ lượng giống để có thể chủ động trong sản xuất. Xác định diện tích qua điều tra vùng phân bố của sò giống và xác định trữ lượng giống bằng các lấy mẫu sinh lượng, dựa trên diện tích bãi giống và sinh lượng để tính ra trữ lượng giống.
Thời điểm lấy giống nên tiến hành khi phát hiện giống khoảng 10-15 ngày (giống cỡ 25-30 ngàn con/kg). Có hai cách lấy giống:

Hình 6: Xác định trữ lượng sò huyết
4.1. Lấy giống lúc bãi cạn
Khi triều xuống lộ mặt bãi, dùng cào cào lớp bùn trên mặt sau đó dùng sàng, rổ để đãi bùn loại bỏ rác, tạp vật để lấy sò giống. Mỗi lần lấy giống xong phải san lại mặt bãi cho bằng phẳng để thu giống sò đợt sau.
4.2.Lấy giống lúc bãi ngập nước
Cách lấy giống này qui mô hơn, thường tiến hành vào những ngày yên sóng hoặc lúc triều bắt đầu xuống nhưng nước còn ngập bãi. Dụng cụ gồm thuyền máy có lưới cào hoặc dùng cào tay, cào lớp bùn trên mặt để thu giống.

Hình 7: Lấy giống bãi ngập nước.
5. Vận chuyển giống: Sau khi lấy giống có thể vận chuyển giống bằng phương pháp giữ ẩm. Trong quá trình vận chuyển con giống tránh để sò tiếp xúc với nước ngọt đặt biệt là nước mưa, thời gian vận chuyển con giống không quá 6 giờ, sò giống được đựng trong cập đệm hoặc bao bố, để nơi thoáng mát vận chuyển bằng xe hoặc tàu thuyền, thường xuyên tưới nước biển lên các bao đựng sò giống để sò dễ hô hấp.
 Ở nhiệt độ thấp thời gian cho phép để vận chuyển lâu hơn và tỉ lệ sống cao hơn.
6. Cách Thả giống.
6.1. Thả giống
Mật độ thả giống dựa vào kích cỡ sò to hay nhỏ để quyết định. Ðối với sò giống có kích cỡ trên 60.000 con/kg thì mỗi ha thả 180 - 300 triệu con, cỡ sò đạt 40.000 con/kg thả lượng giống là 135 - 150 triệu con/ha, sò giống dưới 20.000 con/kg sẽ thả 72 - 108 triệu con/ha. Thời điểm thả giống phải thích hợp, không được thả khi thuỷ triều rút mạnh, tránh sò bị cuốn trôi ra biển.
6.2. San thưa sò giống:
Trong quá trình nuôi dưỡng, phải tiến hành san thưa sò giống. Lần đầu tiên là khi sò giống mới được khai thác. Sau khi rửa sạch sẽ lại chia nhỏ số lượng để thả nuôi trở lại.
Làm sạch thực chất là hình thức tập luyện cho sò giống thích ứng với hoàn cảnh sống mới, hơn nữa loại bỏ được những sinh vật gây hại như loại ốc ngọt (Natica tigrina).
Nuôi thưa có thể thực hiện bằng cách mở rộng diện tích, hoặc di chuyển một bộ phận sò giống đến nơi khác nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng của sò.
Sò giống sống ở tầng mặt, chiều dài trung bình khoảng 0,5 - 0,6cm, độ sâu của huyệt khoảng 0,5cm, về sau tuỳ thuộc vào sự tăng trưởng của từng cá thể mà độ nông sâu của huyệt sẽ khác nhau.
Sò giống có khả năng di chuyển ngang mặt nước, chúng di chuyển nhiều nhất khi có kích cỡ dưới 0,1 cm, lúc này người nuôi sò phải để ý xem sự phân bố của sò giống có đều hay không, tránh trường hợp sò bị túm tụm quá nhiều sẽ tìm cách di chuyển ra khỏi đầm nuôi.
Cỡ sò giống (cm)
Số lượng (con)
Khoảng cách di chuyển và số lượng sò


1- 13cm
13- 26cm
26- 38cm
0,30- 0,40
24
17con
3 con

0,15- 0,20
60
22 con
32 con
2 con
Dưới 0,10
18
2 con
6 con
7 con

Sò giống tốt thường có màu trắng hồng, sạch sẽ, không lẫn tạp vật. Tránh thả giống có mùi hôi hoặc lẫn các sinh vật địch hại như cua ốc. Nên thả giống khi nước còn ngập bãi 10-15 cm để sò không bị phơi nắng vá có thời gian chui xuống bùn. Có thể dùng thuyền đi trên bãi rải giống đều khắp mặt bãi. Lượng giống thả khoảng 7-22 ngàn con/m2 (với cỡ giống 20-60 ngàn con/kg). Tránh thả giống nước chảy mạnh sò dể bị cuốn trôi theo dòng nước.
Hình 8: Sạ giống
* Quyết định mật độ thả con giống dựa vào những nguyên tắc sau:
- Triệt để tận dụng khả năng sản xuất tại vùng biển có đầm nuôi sò, nơi mà phần lớn các yếu tố hữu quan đều không ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của sò.
- Sò giống nếu thả quá dày thì lượng thức ăn cung cấp cho sò không đủ làm hạn chế tốc độ sinh trưởng, ảnh hưởng đến sản lượng thu hoạch.Mật độ thả giống phụ thuộc vào điều kiện của vùng nuôi  và phụ thuộc vào kích cỡ con giống, đặc điểm từng vùng. Trung bình nên thả sò với số lượng như sau:
Cỡ sò (con/kg)
Số lượng giống (kg/ha)
300 – 400
13.500 - 15.000
400 – 600
10.500 - 12.000
600 – 800
9.000 - 10.500
800 - 1.000
7.500 - 9.000
1.000 - 1.200
6.000 - 7.500
1.200 - 1.800
3.000 - 4.500
7. Chăm sóc, quản lý.
- Trong quá trình nuôi cần chú ý sự thay đổi của các yếu tố môi trường, nhất là nồng độ muối. Vào mùa mưa các vùng gần cửa sông nồng độ muối thường giảm đột ngột ảnh hưởng đến sinh trưởng và tỉ lệ sống của sò.
Hình 9: Kiểm tra tốc độ tăng trưởng của Sò huyết.
- Màu sắc của bãi nuôi và sự sinh trưởng của sò có liên quan theo một qui luật:
+ Mặt bãi màu đen hoặc hơi nâu sẽ có nhiểu sinh vật làm thức ăn cho sò, chúng sẽ sinh trưởng nhanh.
+ Mặt bãi màu xanh hoặc vàng chúng tỏ các loại tảo đáy mọc dày, không có lợi cho sò.
+ Mặt bãi màu trắng chứng tỏ có sóng lớn cuối trôi bùn ra khỏi bãi.
- Hàng ngày nên thường xuyên kiểm tra bãi sò, các hệ thống lưới, đăng chắn... để kịp thời sửa chữa.
- Kiểm tra điều kiện môi trường, tình trạng bãi nuôi nhằm hạn chế những bất lợi cho hoạt động sống của sò.
- Trong quá trình nuôi nên định kỳ cào sò xung quanh lưới chắn để san thưa vì sò thường tập trung xung quanh lưới chắn. Việc cào sò để san thưa cũng giúp tiêu diệt địch hại.
8. Thu hoạch.
- Nuôi sau 1 năm thì có thể thu hoạch.
- Cỡ thu hoạch phổ biến là 40-60 con/kg.
- Dùng cào tay hoặc cào máy để thu hoạch và vận chuyển đến nơi tiêu thụ. - Thu hoạch có thể tiến hành quanh năm tùy theo thị trường, nhưng tốt nhất nên thu hoạch vào thời điểm sò thành thục sinh dục sẽ cho sản phẫm chất lượng cao.
Mô hình: thực hiện vào tháng 11/2009 và thu hoạch vào tháng 6/2010. Chủ hộ ông Nguyễn Việt Lào,  ấp Cái Cám, xã Tân Hải, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Sau thời gian 8 – 9 tháng nuôi kiểm tra thấy sò đạt từ 50 – 60 con/kg thì tiến hành thu hoạch, cào tay hoặc cào máy, phân lô cào đi cào lại nhiều lần để đảm bảo thu hoạch được toàn bộ số sò, áp dụng phương pháp thu cuốn chiếu, thu nhiều ngày để tránh tình trạng sò di chuyển sang những nơi đã thu hoạch rồi, thu hoạch vào mùa thành thục sinh dục, lúc thủy triều lên vì lúc này sò lên trên mặt kiếm ăn thuận tiện cho việc thu hoạch và lúc này sò thảy chất cặn bã trong cơ thể chỉ giữ lại chất dinh dưỡng chất lượng sò cao hơn. Nên thu ngày nào tiêu thụ ngày đó để chất lượng sò tươi sống và đạt trọng lượng tối đa.
Hình 10: Thu hoạch sò huyết
Hình 11: Sò được thu hoạch và vận chuyển
9. Hoạch toán kinh tế ( Tính trên 1ha):
Lưới rào: 20 cây x 240.000 đồng/cây = 4.800.000 đồng.
Trụ cây tràm: 529 cây x 7.000 đồng/cây = 3.700.000 đồng.
Chòi canh: 2.000.000 đồng.
Công quản lý: 1.200.000 đồng/người/tháng x 7 tháng = 8.400.000 đồng.
Con giống: 3.000 kg x 27.000 đồng/kg = 81.000.000 đồng.
Công vận chuyển: 1.250.000 đồng.
Tổng chi: 101.150.000 đồng.
Thu hoạch: 6.000 kg.
Tổng thu: 6.000 kg x 30.000 đồng/kg = 180.000.000 đồng.
  Lợi nhuận: Tổng thu – Tổng chi = 78.850.000đ.
Phần 3: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
1. KẾT LUẬN
Nuôi sò huyết không khó vì đầu tư ít vốn, không phải cho ăn, chỉ cần bỏ công quản lý lại thu nhập cao gấp 2-3 lần vốn đầu tư.
Có nhiều mô hình nuôi, mỗi mô hình có những ưu thế nhất định.
2. ĐỀ XUẤT
          Việc sản xuất giống nhân tạo chỉ mới dừng lại ở quy mô thí nghiệm chưa thể ứng dụng rộng rãi trong sản xuất do đó cần tiếp tục nghiên cứu nhằm tạo ra con giống chủ động và có quy trình nuôi hoàn chĩnh.
Cần nghiên phát triển và giới thiệu rộng rãi những mô hình nuôi có hiệu quả.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
6. Tạ Văn Phương, Trương Quốc Phú, 2006.Thử nghiệm nuôi sò huyết trong ao nuôi nước tỉnh”. Tạp chí nghiên cứu khoa học 2006: 192 – 200.