-->

05/11/2011

ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI GIAN CHO ĂN

ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI GIAN CHO ĂN ĐẾN LƯỢNG THỨC ĂN ĂN VÀO VÀ SỰ TĂNG TRƯỞNG 
                                                               Valérie Bolliet, Mezian Azzaydi and Thierry Boujard 

 Giới thiệu: Ở một vài loài cá có biểu hiện nhịp điệu với sự cho ăn ngay khi có sự phóng thích thức ăn. Nhìn chung các loài cá được phân theo những nhóm sau cá ăn ban ngày, về đêm và lúc hoàng hôn, nhưng có một số loài thay đổi nhịp điệu sử dụng thức ăn trong suốt tiến trình của năm, điều đó tuỳ thuộc vào sự thay đổi mùa, nhiệt độ hay chu kỳ chiếu sáng (Landless 1976; Eriksson and Alanärä 1992; Fraser et al. 1993, 1995; Sanchez-Vazquez et al. 1998; xem Chương 8). Sự thay đổi theo mùa và hàng ngày trong hoạt động cho ăn có thể phản ánh phản ánh sự thích nghi với nguồn thức ăn sẳn có và các loài ăn thịt trong tự nhiên. Điều này có thể ngụ ý rằng sự phân chia dinh dưỡng và quá trình trao đổi chất không thay đổi trong ngày và điều đó còn tuỳ thuộc vào các mùa......
1. Giới thiệu: 

     Ở một vài loài cá có biểu hiện nhịp điệu với sự cho ăn ngay khi có sự phóng thích thức ăn. Nhìn chung các loài cá được phân theo những nhóm sau cá ăn ban ngày, về đêm và lúc hoàng hôn, nhưng có một số loài thay đổi nhịp điệu sử dụng thức ăn trong suốt tiến trình của năm, điều đó tuỳ thuộc vào sự thay đổi mùa, nhiệt độ hay chu kỳ chiếu sáng (Landless 1976; Eriksson and Alanärä 1992; Fraser et al. 1993, 1995; Sanchez-Vazquez et al. 1998). 
      Sự thay đổi theo mùa và hàng ngày trong hoạt động cho ăn có thể phản ánh phản ánh sự thích nghi với nguồn thức ăn sẳn có và các loài ăn thịt trong tự nhiên. Điều này có thể ngụ ý rằng sự phân chia dinh dưỡng và quá trình trao đổi chất không thay đổi trong ngày và điều đó còn tuỳ thuộc vào các mùa. Hơn nữa, điều này có thể đưa ra giả định là hoạt động cho ăn có thể tuỳ thuộc vào cơ chế bên trong và xảy ra khi cá có chuẩn bị tốt về mặt sinh lý cho việc sử dụng thức ăn hiệu quả. 
     Điều này đưa đến câu hỏi là ảnh hưởng của thời gian cho ăn lên sự tăng trưởng và sự phân chia dinh dưỡng đến những loài cá được nuôi - một câu hỏi thú vị cho những người nuôi cá với việc mong đợi thiết lập được các thời điểm cho ăn tối ưu. Trong phương pháp truyền thống số lượng phân bổ thức ăn thường được điều chỉnh theo tuỳ thuộc vào kích cỡ cá và nhiệt độ, nhưng ít sự quan tâm đến thời điểm phân bổ thức ăn.
     Thức ăn thường được phân bố trong khoảng thời gian làm việc trong ngày, bất chấp nhịp điệu ăn của các loài cá được nuôi: vì thế, thời gian cung cấp thức ăn bổ sung có thể không đáp ứng được cho nhu cầu tối đa vốn có của nó, và điều này có thể dẫn đến sự sinh trưởng kém, sự chuyển hoá khẩu phần ăn thấp và làm hao hục thức ăn. Tần suất cho ăn cũng được biết có ảnh hưởng lên tăng trưởng và khả năng chuyển đổi thức ăn (Boujard & Leatherland 1992a; Jarboe & Grant 1997). 
     Ví như hiệu quả chuyển đổi thức ăn của cá nheo, Ictalurus punctatus tăng lên khi số bữa ăn được tăng từ hai lên bốn ở tỷ lệ cố định là 2 % trọng lượng thân/ngày (bw/day) (Greenland & Gill 1979). Xa hơn nữa, cá hồi, Oncorhynchus mykiss, cho ăn liên tục cho thấy hiệu quả sử dụng carbohydrat tốt hơn cá được cho ăn bốn lần trên ngày ở cùng tỷ lệ thức ăn 2 % trọng lượng cơ thể trên ngày (Hung & Storebakken 1994). Thời điểm cho cá ăn đề cập ở chương này được quan tâm với việc phân chia bữa ăn ở các khoảng thời gian khác nhau của chu trình sáng-tối. Chúng ta sẽ tập trung vào ảnh hưởng của thời điểm cho ăn đến lượng thức ăn ăn vào, sự tăng trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn, chất lượng nuôi béo và sẽ thảo luận về thời gian cung cấp thức ăn ảnh hưởng đến sự tăng trưởng. 

2 Ảnh hưởng của thời gian cho ăn đến sự tăng trưởng: 

     Một vài nghiên cứu đã được thực hiện nói về ảnh hưởng của thời gian cho ăn lên sự tăng trưởng đã được chứng minh ở (Bảng 10.1). Trong bộ cá da trơn, nhóm được xem là nhóm ăn vào ban đêm, thức ăn được cung cấp trong suốt nhiều giờ của đêm tối có thể làm gia tăng sự tăng trưởng. Kerdchuen và Legendre (1991) báo cáo rằng cá da trơn ở Châu Phi, Heterobranchus longifilis, được cho ăn 3 % trọng lượng cơ thể trên ngày nhưng những con cho ăn trong buổi tối có sự tăng trưởng tốt hơn những con được cho ăn ban ngày. Tương tự, điều đó cũng được chứng minh trên cá nheo, cá da trơn Ấn Độ, Heteropneustes fossilis, và cá trê phi, Clarias lazera và Heterobranchus longifilis ( Stickney & Andrew 1971; Hogendoom 1981; Sundararaj et al. 1982; Baras et al. 1998). 
     Ở characin, Piaractus branchyponus, cá được thả ương ở mật độ từ 31-34 kg/m3 tăng trưởng tốt hơn khi được cho ăn vào ban đêm (20:30-08:30) so với cho ăn vào thời điểm ban ngày (08: 30 - 20:30) (Baras et al. 1996). Trái ngược lại, cho ăn vào ban ngày dường như làm gia tăng trọng lượng ở cá hồi. Mặc dù những loài cá này có thể thay đổi tập tính ăn của chúng theo mùa (xem Eriksson & Alanärä 1992), điều đó nhìn chung được tin rằng tính ăn của cá hồi hầu như xảy ra vào ban ngày, với hoạt động cho ăn chín diễn ra lúc bình minh và lần thứ 2 diễn ra lúc chạng vạng tối (Boujard & Leatherland 1992a,b; Sanchez-Vazquez & Tabata 1998). 
     Nghiên cứu được thực hiện trong suốt mùa Đông - Xuân, cá hồi có sự tăng trưởng tốt nhất khi được cho ăn vào lúc bình minh, sự tăng trưởng thấp nhất ở những cá được cho ăn lúc giữa đêm, và tốc độ tăng trưởng của cá được cho ăn vào buổi trưa và lúc chạng vạng tối mang tính trung gian (Boujard et al. 1995). Một nghiên cứu sau đó đã chứng minh rằng trong suốt khoảng thời gian giống nhau của năm, những loài này có sự tăng trưởng tốt hơn khi cho ăn vào lúc bình minh so với khi được cho ăn vào lúc nữa đêm (Gélineau et al. 1996). Thêm nữa, một số kết quả đề nghị rằng thời điểm tối ưu để cho cá ăn nhằm đạt được sự tăng trưởng tốt là các hoạt động cho ăn diễn ra tự nhiên hằng ngày. Tuy nhiên, Zoccarato et al. (1993) báo cáo rằng cá hồi tăng trưởng tốt hơn khi được cho ăn lúc 16:00 so với lúc bình minh, trong một nghiên cứu khác cho thấy cá được cho ăn vào buổi trưa hay lúc chạng vạng cho sự tăng trưởng tốt hơn lúc bình minh (Reddy et al. 1994). Hơn hơn nữa, nhiều nghiên cứu khác được thực hiện trên cá chép, Cyrinus carpio, cá chẽm, Dicentrarchus labrax và cá nheo cho thấy không có sự ảnh hưởng của thời gian cho ăn lên sự sinh trưởng (Noeske & Spieler 1984; Carillo et al. 1986; Perez et al. 1988; Robinson et al 1995; Boujard et al. 1996; Jarboe & Grant 1996, 1997). Tuy nhiên, không chỉ ở những nghiên cứu này có sự giám sát về thời gian cho ăn một cách chính xác. Thêm vào đó, một vài sự trái ngược nhau giữa các nghiên cứu có thể quy cho bởi những điều kiện khác nhau, như kích thước và tuổi của cá, các hệ thống ương nuôi, mật độ nuôi thả nuôi, nhiệt độ, điều kiện ánh sáng và các mức độ khẩu phần ăn cố định hằng ngày. Với sự đa dạng về điều kiện thí nghiệm, không nên kỳ vọng các loài cá sẽ có cùng tập tính hoặc trạng thái sinh lý và sự khác nhau về thời gian cho ăn có thể được dự đoán. 
     Minh chứng cho những điều này là kết quả nghiên cứu được thực hiện bởi Reddy et al. (1994), các nhóm cá hồi được cho ăn với các khẩu phần ăn 1.5, 2 hoặc 2.5 % trọng lượng cơ thể vào lúc bình minh, buổi trưa hoặc lúc chạng vạng tối từ tháng 8 đến tháng 1. Các tác giả báo cáo rằng ảnh hưởng của thời điểm cho ăn lên các nhóm được cho ăn với khẩu phần 1.5 và 2 % trọng lượng của cơ thể, nhưng không có sự ảnh hưởng lên nhóm được cho ăn ở khẩu phần ăn 2.5 % trọng lượng của cơ thể. Baras và các cộng sự (1998) đã khám phá ra rằng ảnh hưởng của ba thời khóa biểu cho ăn khác nhau (trong suốt ngày, suốt đêm và liên tục) lên sự tăng trưởng của cá trê phi khác nhau tùy theo tuổi và trọng lượng (31-101 ngày; 0.3-30 g). Cá được cho ăn vào buổi tối có tốc độ tăng trưởng cao hơn, tỷ lệ chết thấp hơn và đồng nhất hơn so với cá được cho ăn vào ban ngày hay cho ăn liên tục. Mặc dù xu hướng chung là quan sát trên tất cả kích thước của cá, sự khác nhau chỉ có ý nghĩa trên những cá có kích thước nhỏ nhất. Cũng như cá hồi ở Bắc cực, Salvelinus alpinus, sự tăng trưởng của cá giảm khi ở cá được giữ ở mật độ thấp (Wallace et al. 1988; Baker & Ayles 1990; Jørgensen and Jobling (1993) chứng minh rằng tính ăn của cá trong suốt những giờ của ban đêm có sự tăng trưởng không bị hạn chế do mật độ thả nuôi. 

2.1 Tìm kiếm thời gian cho ăn tốt nhất: một vấn đề …..: 

Cá có thể không cứng rắn trong việc hạn chế hoạt động của chúng vào lúc pha tối hoặc pha sáng, một vài loài cá xuất hiện sự luân phiên từ ban đêm đến ban ngày tại những thời điểm khác nhau trong năm (chương 8). Các kết quả thí nghiệm về việc ảnh hưởng của thời gian cho ăn đến sự tăng trưởng được áp dụng trên một số loài có thể mang đến những kết quả khác nhau về sản lượng ở những khoảng thời gian khác nhau trong năm. Chứng minh cho điều đó là kết quả nghiên cứu trên các vàng, Carassius auratus, bởi Noeske và cộng sự (1981) và Noeske và Spieler (1984). Trong suốt mùa Đông, cá được cho ăn vào ban ngày (4 – 8 giờ sau khi mặt trời mọc) có sự gia tăng trọng tốt hơn những cá được cho ăn từ 4 – 8 giờ sau khi mặt trời lặn. Vào tháng 1, khi cá vàng được cho ăn với khẩu phần 1% trọng lượng cơ thể/lần ăn vào những thời điểm khác nhau của chu kỳ sáng tối (0 giờ, 6 giờ, 12 giờ hoặc 18 giờ), kết quả cho thấy cá được cho ăn lúc 6 giờ có trọng lượng nặng hơn và dài hơn những cá được cho ăn vào các thời điểm còn lại của ngày. Cá chẽm cho ăn vào ban đêm trong mùa Đông và chuyến sang ban ngày vào mùa hè (Sanchez – Vazquez et al, 1998) và Azzaydi et al (1999) đã cho thấy cá được cho ăn suốt buổi tối vào mùa Đông tăng trưởng tốt hơn những cá được cho ăn vào ban ngày. Kết quả nghiên cứu sau đó trên cùng một loài cho kết quả hoàn toàn trái ngược lại, không có sự khác nhau có ý nghĩa về sự tăng trưởng khi cho cá ăn ở những khoảng thời gian khác nhau như bình minh, buổi trưa, lúc chạng vạng tối hoặc nữa đêm (Boujard et al, 1996). Tuy nhiên Boujard et al, 1996 thực hiện thí nghiệm này vào mùa xuân và thời điểm giao mùa, với cá chẽm có sự luân phiên tính ăn từ ban đêm đến ban ngày và chúng không có sự cứng nhắt trong tính ăn của chúng (Sanchez – Vazquez et al, 1998). Hiện nay, rõ ràng thời gian cho ăn có ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của cá nhưng để chọn ra thời điểm cho ăn tối ưu khó hơn lúc đầu nghĩ. Kiểm soát các điều kiện và mùa vụ thì có khả năng ảnh hưởng đến tính ăn. Phần lớn các nghiên cứu thực hiện chỉ có 2 – 4 bữa ăn chính được kiểm tra và không đủ để xác định khoảng thời gian tốt nhất để cho cá ăn. Để nghiên cứu tỉ mỉ về thời điểm tối ưu để cho cá ăn đòi hỏi các thí nghiệm thực hiện dưới các điều kiện được kiểm soát và so sánh với những nhịp điệu tính ăn tự nhiên của loài. Có một vài bằng chứng khi cho cá ăn một lượng thức ăn, lượng thức ăn được phân chia thành nhiều bữa ăn khác nhau sẽ cho sự tăng trưởng tốt hơn chỉ cho ăn một bữa (Greenland and Gill 1979; Jarboe and Grant 1997). Thêm vào đó, sự ngon miệng của các loài cá biển động theo ngày, vì vậy việc điều chỉnh sự cho ăn như số lượng thức ăn phân phát ở mỗi bữa ăn thay đổi phù hợp với các hoạt động cho ăn hàng ngày có thể làm gia tăng sự tăng trưởng của cá. Minh chứng cho điều này là kết quả nghiên cứu được thực hiện bởi Azzaydi et al, (1999), cá chẽm được cho ăn 3 bữa trong ngày với liều lượng thức ăn phù hợp với nhịp điệu kiểm soát thức ăn của cá cho sự tăng trọng tốt hơn cá được cho ăn 3 bữa ăn như nhau trong ngày. 

 10.3 Ảnh hưởng của thời gian cho ăn lên thức ăn đầu vào và sử dụng dưỡng chất: 

     Trong hầu hết những nghiên cứu đề cập đến ảnh hưởng của thời gian cho ăn lên sự tăng trưởng của cá, sự tiêu thụ thức ăn đã không được theo dõi chính xác, vì vậy thật khó để xác định có hay không sự tăng trọng khác nhau là do thức ăn đầu vào khác nhau hay do sự sử dụng thức ăn khác nhau. Với những kiến thức đã biết, nghiên cứu đầu tiên về ảnh hưởng của thời gian cho ăn lên thức ăn đầu vào được thực hiện trên cá vàng bởi Noeske và Ctv (1981). Trong nghiệm thức này cá được cho ăn 6 lần (mỗi lần khoảng 40 phút). Thức ăn được cân trước và sau mỗi lần cho ăn. Dưới những điều kiện như vậy, thức ăn được tiêu hóa tốt nhất sau khoảng 8 giờ sau khi trời sáng, trái lại vào buổi tối cá tiêu hóa ít nhất. Trong những nghiên cứu diễn ra trên cá hồi đốm bởi Boujard và Ctv (1995), khoảng 9% thức ăn cho ăn vào ban đêm không được ăn. Trái lại vào trời sáng cá ăn thừa lại rất ít hoặc không có. Tuy nhiên cá hồi - đối tượng quan sát chủ yếu, sự khác nhau trong thức ăn đầu vào có thể là kết quả từ những khó khăn trong việc giành được thức ăn vào ban đêm hơn là nhu cầu thực sự. Cá hồi đại Tây Dương, Salmon salar, không thể ăn thức ăn trôi dạt khi trời tối hoàn toàn (Fraser và Metcalfe 1997), trái lại Jorgensen và Jobling (1990, 1992) báo cáo rằng cá hồi Đại Tây Dương và cá hồi chấm hồng Bắc cực có thể ăn khi tiếp cận thức ăn nằm dưới đáy của bể. 
     Theo Boujard và ctv (1995) cá có thể tiếp cận thức ăn viên trong một vài phút trước khi chúng biến mất. Điều này khẳng định rằng thời gian cho ăn có ảnh hưởng lên thức ăn đầu vào. Tuy nhiên theo (Noeske 1981 và Boujard, 1995) sự tăng trưởng khác nhau của cá cho ăn vào thời điểm khác nhau thì không thể giải thích rỏ ràng bởi sự khác nhau trong tiêu thụ thức ăn. Noeske và ctv đề nghị rằng có thể có một thời điểm tối ưu cho cá ăn. Để ủng hộ cho giả thuyết này có thể được cung cấp bởi kết quả của những nghiên cứu trên cá nheo, African catfish and piraparinga, nhưng bởi vì thức ăn đầu vào không được đo lường chính xác nên bất cứ kết luận nào liên quan đến hiệu quả thức ăn đều bị nghi vấn. Nghiên cứu đã tiến hành trên cá hồi đốm để xác định ảnh hưởng của thời gian cho ăn lên cả thức ăn đầu vào và sự tiêu thụ thức ăn (Boujard và ctv 1995; Gelineau và ctv 1996). Trong một nghiệm thức cá cho ăn 1.2% trọng lượng thân vào buổi sáng thì có trọng lượng thân sau cùng giống với cá ăn 1.5% vào ban đêm. Thêm vào đó cá ăn ban đêm có 9% nồng độ lipid cao hơn và 16% protein hơn cá ăn vào buổi sáng. Trong nghiên cứu thứ hai, số lượng thức ăn được điều chỉnh để đảm bảo thức ăn đầu vào tích lũy giống nhau trong tất cả các nhóm. Dưới những điều kiện này, sự tích lũy protein và lipid thì hầu như có hiệu quả vào ban ngày. 

 10.4. Cơ chế phức tạp trong sự gián tiếp sự ảnh hưởng của thời điểm cho ăn lên sử dụng chất dinh dưỡng: 

     Ở cá hồi, hiệu quả sử dụng thức ăn và tích lũy chất dinh dưỡng trong cá tốt hơn đã được quan sát ở giai đoạn cá được cho ăn với thức ăn tự nhiên của chúng thể hiện mối quan hệ đến sự tổng hợp và tích lũy protein. Điều này là do sự bài tiết ammoniac do sự oxi hóa nhanh chóng của các amino axit (Brett&Zala 1975), cá hồi cho ăn vào nửa đêm thì sự bài tiết lớn hơn cá hồi cho ăn vào lúc bình minh (Gelineau et al1998). Tổng năng lượng sử dụng được đánh giá bởi phương pháp đo nhiệt lượng gián tiếp thì giống nhau với cả hai nhóm. Cá hồi cho ăn lúc bình minh dường như có năng suất tổng hợp protein cao hơn (đánh giá tỉ lệ RNA/DNA,cf Bulow 1987) trong gan hơn cá cho ăn vào ban đêm (Fig 10.2a) (Gelineau et al.1996). Sự suy giảm trong việc tổng hợp prôtein của cá cho ăn vào ban đêm được hy vọng dẫn đến sự khử gốc amin của amino axit, do đó dẫn tới việc sử dụng không hiệu quả protein cho tăng trưởng. Hoạt động ăn dao động suốt chu kỳ 24 giờ và được điều khiển cơ chế tạo dao động xảy ra đồng thời bởi sự quang hợp và thức ăn có sẳn (Boujard & Leatherland 1992b; Cuenca&de la Higuera1994; Sanchez-Vazquez et al 1995a.b.1996; Boujard & Luquet 1996; Sanchez-Vazquez &Tabata 1998). 
    Có bằng chứng đáng kể chứng minh rằng hormone hoặc chất trao đổi chất (enzyme) có liên quan đến việc sử dụng ăn, tăng trưởng và phân giải năng lượng biểu hiện sự biến động hằng ngày (for review, see Spieler1979; Boujard & Leatherland1992a, LeBail & Boeuf1997; MacKenzie et al 1998, xem chương 12), đề nghị rằng cá có trạng thái sinh lý khác nhau vào thời điểm khác nhau trong ngày. Điều này có nghĩa là, chúng sẽ phản ứng khác nhau với thức ăn tùy thuộc vào thời gian cho ăn (Spieler1979). Do đó, cho cá ăn trong giai đoạn phù hợp với nhu cầu bên trong cơ thể là điều kiện tốt nhất cho việc tiêu thụ dưỡng chất. 10.4.1 Ảnh hưởng của thời gian cho ăn đến vòng tuần hoàn nội tiết tố: Các số liệu liên quan đến ảnh hưởng của thời gian cho ăn lên chu kỳ nội tiết còn ít và những kết quả này thì chưa được chắc chắn. Insulin và glucagon có sự ảnh hưởng lên quá trình trao đổi chất và nồng độ của tế bào plasma bị ảnh hưởng bởi lượng thức ăn ăn vào (xem Mommsen & Plisetskaya 1991; LeBail & Boeuf 1997). 
     Ảnh hưởng của thời gian cho ăn lên vòng tuần hoàn của insulin biết ở sea bass (Dicentrarchus labrax) cho ăn lúc 2 giờ hoặc 7 giờ sau khi bắt đầu sáng (05:45) (Perez et al. 1988). Nồng độ insulin nguyên sinh đạt mức cao nhất quan sát được khoảng 15:00 giờ, nhưng cho cá ăn vào buổi sáng có nồng độ insulin nguyên sinh thấp nhất vào lúc trưa và những cá được cho ăn vào buổi chiều có nồng độ insulin nguyên sinh thấp nhất vào lúc nữa đêm. Thêm vào đó, cho cá ăn sớm ở pha sáng có nồng độ insulin nguyên sinh thấp hơn những lần cho ăn muộn hơn. Tuy nhiên, theo nhiều tác giả, sự khác nhau ở mức độ nội tiết tố có thể là kết quả của sự khác nhau về số lượng thức ăn ăn vào hơn là ảnh hưởng trực tiếp của thời gian cho cá ăn. Plasma cortisol đạt đỉnh điểm được quan sát lúc 4 giờ trước khi cho cá vàng ăn (Spieler & Noeske 1981, 1984), tại thời điểm cho ăn ở cá hồi rainbow (Bry 1982; Rance et al. 1982; Laidley & Leatherland 1988; Boujard & Leatherland 1992 c), và vài giờ sau khi ăn ở cá hồi nâu, Salmo trutta (Pickering & Pottinger 1983) và cá hồi rainbow (Boujard et al. 1993). Ở cá vàng và cá hồi rainbow, được cho rằng sự biến động của nồng độ plasma cortisol có thể do lượng thức ăn và chu kỳ sáng (Spieler & Noeske 1984; Boujard et al. 1993). Tuy nhiên, khi đồng thời quan sát giữa thời gian cortisol cao điểm và thời gian cho ăn thì rất khó nhận biết đây là phản ứng từ cho ăn (feeding per se) hay từ kết quả do căng thẳng vì sự cạnh tranh thức ăn (Boujard & Leatherland 1992b). Các tuyến giáp nội tiết tố (thyroid hormones) T3, T4 được nghĩ là có vai trò trong quá trình tăng trưởng, bởi khả năng ảnh hưởng của chúng lên về ảnh hưởng của đồng hóa nội tiết tố (Anabolic hormones) khác (Sumpter 1992; xem chương 12). Spieler và Noeske (1981, 1984) báo cáo rằng plasma T4 ở cá vàng đạt mức cao trong suốt giai đoạn sáng và thời gian cho ăn tác động lên biên độ có sự dao động lớn. 
     Trong một nghiên cứu, cho cá ăn lúc 8 giờ sau khi được chiếu sáng có nồng độ plasma T4 thấp hơn những cá được cho ăn tại thời điểm chiếu sáng và trong một nghiên cứu khác những cá được cho cá ăn lúc 4 giờ hay 6 giờ sau khi chiếu sáng có nồng độ plasma T4 thấp hơn cá được cho ăn vào những thời điểm khác nhau trong ngày. Tuy nhiên, không có những kết quả của thí nghiệm mô tả về thời gian cho ăn làm thay đổi các pha của nội tiết tố tuyến giáp (thyroid hormone). Các nghiên cứu thực hiện trên cá hồi rainbow cũng không thành công về việc biểu hiện sự thay đổi pha của plasma T4 có liên hệ với thời gian cho ăn. Với sự thừa nhận nghiên cứu của Osborne et al. (1978), là plasma T4 đạt đỉnh cao trong suốt giai đoạn tối (scotophase), điều này có khả năng giai đoạn đầu về ngày đêm của vòng tuần hoàn của nội tiết tố bất chấp thời gian cho ăn (Cook & Eales 1987; Boujard & Leatherland 1992c; Holloway et al. 1994; Reddy & Leatherland 1995). Khi cho cá ăn ở bốn thời điểm khác nhau trong suốt giai đoạn sáng (Photophase) hay một lần vào lúc giữa ngày, có sự gia tăng (mặc dù không hoàn toàn) plasma T4 lúc sáng sớm (Leatherland et al. 1977; Boujard et al. 1993). Hơn nữa là gần đây, Gomez et al. (1997) đo lường plasma profile T4 trên cá hồi rainbow. Không có tác động của thời gian cho ăn đến plasma T4 có thể quan sát được, nhưng có sự biến động cao trong các plasma profile riêng biệt. Đỉnh điểm của vòng tuần hoàn plasma T4 xảy ra giữa các khoảng thời gian không đều nhau tái hiện một khung cảnh không đồng nhất (Asynchrony) giữa các cá thể. Tác động của thời gian cho ăn lên plasma T3 được báo cáo trên cá vàng (Spieler & Noeske 1981). Cá đươc cho ăn vào buổi chiều có nhịp điều về lượng nội tiết tố lưu thông cao, nồng độ cao nhất xảy ra lúc 16 giờ. Trong khi cá cho ăn vào buổi sáng không biểu hiện. Ở Cá hồi rainbow, nồng độ của sinh chất T3 giữ ở mức ổn định ở cá cho ăn lúc sáng sớm, nhưng có sự biến động cao ở cá cho ăn vào lúc nữa đêm (Fig. 10.2b) (Geslineau et al. 1996). Những nghiên cứu khác về các dạng (diel) của sinh chất T3 đang được nghiên cứu trên Cá hồi rainbow có sự biến động ít hoặc không có sự biến động và không có ảnh hưởng của thời gian cho ăn lên các profile. (Eales et al. 1981; Boujard & Leatherland 1992c; Boujard et al. 1993 ; Holloway et al. 1994 ; Reddy & Leatherland 1994, 1995 ; Gomez et al. 1997). Nội tiết tố tăng trưởng (GH) thì coi như là nội tiết tố chính góp phần điều chỉnh thể tăng trưởng ở teleosts (BjÖrnsson 1997). 
     Thời kỳ cao điểm xảy ra ngay sau khi GH lưu thông liên hệ đến bửa ăn chính đang được báo cáo ở Cá hồi rainbow (Boujard et al. 1993 ; Reddy & Leatherland 1994, 1995 ; Geslineau et al. 1996). Nồng độ GH sinh chất ở Cá hồi rainbow khi cho cá ăn vào lúc ban đêm thì cao hơn cho cá ăn vào lúc sáng sơm (Fig. 10.2c) (Geslineau et al. 1996). Trong một nghiên cứu khác tiến hành trên các loài giống nhau, không có tác động rõ của thời gian cho ăn lên các dạng nội tiết tố sinh chất đã được chứng minh (Boujard et al. 1993). Gomez et al. (1997) tìm ra các dạng sinh chất GH cho Cá hồi rainbow. Số lần cao điểm của GH lưu thông khác nhau giữa 0 và 3 và nó xảy ra ở các khoảng thời gian không đều nhau vì thế sự hiện diện toàn bộ bức tranh về hiện trạng không đều nhau giữa các cá thể riêng lẻ, thêm nữa tác động không hữu hiệu của thời gian cho ăn chính lên các nồng độ GH sinh chất có thể quan sát được. Mặt dù điều này được tin rằng cho cá ăn được yêu cầu sự duy trì nhịp điệu chuẩn của các nội tiết tố lưu thông và các chất chuyển hóa (Cook & Eales 1987 ; Holloway et al. 1994 ; MacKenzie et al. 1998), bằng chứng về hiệu lực của thời gian cho ăn lên các dạng sinh chất các nội tiết tố và các chất chuyển hóa phức tạp ở thể sinh trưởng (somatic growth) còn giới hạn. 
     So sánh giữa các nghiên cứu thì còn giới hạn về các điều kiện thí nghiệm khác nhau như : thời gian lấy mẫu, mùa, ẩm độ, tuổi và giới tính của cá, giai đoạn tái sinh và giai đoạn dinh dưỡng. Những yếu tố này là tiềm năng làm hỏng đi các nhân tố có thể ảnh hưởng đến các chu trình nội tiết tố (endocrine cycles). (Leatherland et al. 1977 ; Osborne et al. 1978 ; Spieler 1979 ; Eales et al. 1981 ; Cook & Eales 1978 ; Perez-Sanchez et al. 1994). Thêm vào đó, sự lên xuống của nồng độ sinh chất GH hoặc T4¬ hàng ngày không xuất hiện một cách đều đặn và điều này có lẻ đã làm tăng tính không đồng nhất giữa các cá thể riêng lẻ (Gomez et al. 1996, 1997). Điều này đòi hỏi rằng cần có sự kiểm tra các dạng nội tiết tố sinh chấtm, có thể không phù hợp riêng biệt cho việc làm tăng thông tin về cơ chế (mechanism) bao gồm hiệu lực của thời gian cho ăn lên tăng trưởng của cá. Nghiên cứu về các nội tiết tố cảm nhận (Hormonal receptors), sự biểu hiện của gen hay hoặc động của enzym có thể cung cấp nhiều thông tin thích hợp cho việc giải thích làm thế nào thời gian cho ăn ảnh hưởng đến sự trao đổi chất (Metabolism) và sử dụng dinh dưỡng 

 10.5 Thời điểm cho ăn và chất lượng thịt: 

     Chất lựong thịt có thể coi như là tỉ lệ phần trăm, thành phần dinh dưỡng và thuộc tính giác quan như màu sắc, kết cấu, vị và mùi. Những thuộc tính đó bị chi phối bởi phân phối lipid, lipid chứa trong thịt và thành phần acid béo trong nhóm lipid tìm thấy trong mô cá.. Chất lựong thịt cá phụ thuộc vào thành phần thức ăn và mức độ khẩu phần cho ăn. Nhưng thời gian ăn của cá và thành phần có thể ảnh hưởng tới chất lượng thịt. Khi cho cá hồi ăn vào lúc bình minh 0.9, 1.2 hoặc 1.5 % trọng lượng thân có tỷ lệ phần trăm lipid cao hơn cá ăn suốt ban đêm Ở một số loài tương tự ở một số loài cá khác khi cho ăn 16h cơ thể có nhiều mở hơn cho ăn lúc 9h Cá trê sống ở kinh ăn 2.5 % trọng lượng thân 3h trước khi tối có mỡ bụng hơn 36% lượng mỡ ở bụng khi cho ăn 1.5h sau bình minh. Cá ăn buổi chiều có nhiều mỡ ở nội tạng và tỷ lệ phần trăm mỡ trong thịt thấp hơn cá ăn vào buổi sáng. 

 10.6 Kết luận: 

     Có nhiều cơ sở cho thấy có sự ảnh hưởng của của thời gian cho ăn lên sự tăng trưởng của cá, nhưng cần có nhiều nghiên cứu để giải thích rõ hơn hiện tượng này và đưa ra lý do cho đánh giá việc ứng dụng thời điểm cho ăn trong điều kiện nông trại. Thời điểm cho ăn tối ưu để cá nâng tăng trưởng có thể phù hợp đỉnh cho ăn hằng ngày của nhiều loài. Mặc dù không rõ ràng bởi vì sự khác nhau điều kiện thí nghiệm kết hợp với mức độ thay đổi đáng kể dưới điều kiện ngoại cảnh của cá . Các ảnh hưởng của thức ăn lên tăng trưởng có thể do ảnh hưởng lượng thức ăn lấy vào và sử dụng dinh dưỡng. Thành phần của cơ thể cũng bị ảnh hưởng bởi thời điểm cho ăn, với tỷ lệ lượng lipid và phân bố đã được báo cáo. Cả 2 có thể ảnh hưởng tới chầt lượng thịt và tỉ lệ thịt. Cả hai yếu tố này được quan tâm trong nuôi trồng thủy sản và công nghệ chế biến cá. Những nghiên cứu khảo sát nồng độ plasma của hormone và sự trao đổi chất minh chứng về ảnh hưởng của thời điểm cho ăn đến nội tiết tố. Những thí nghiệm dự định kiểm tra ảnh hưởng của thời điểm cho ăn lên các cơ quan nhận hormone, sự điều chỉnh biến cấu của hoạt tính enzyme hoặc gen biểu thị có thể có nhiều giải thích quan trọng cho cơ chế phức tạp trong sự gián tiếp sự ảnh hưởng của thời điểm cho ăn lên sử dụng chất dinh dưỡng.